Tin tức

Nhóm tấn công tìm kiếm thứ nhất (USAAF)

Nhóm tấn công tìm kiếm thứ nhất (USAAF)


We are searching data for your request:

Forums and discussions:
Manuals and reference books:
Data from registers:
Wait the end of the search in all databases.
Upon completion, a link will appear to access the found materials.

Nhóm tấn công tìm kiếm thứ nhất (USAAF)

Lịch sử - Sách - Máy bay - Dòng thời gian - Chỉ huy - Căn cứ chính - Đơn vị thành phần - Được giao cho

Môn lịch sử

Nhóm tấn công tìm kiếm số 1 là một đơn vị tác chiến chống tàu ngầm thử nghiệm được thành lập vào mùa hè năm 1942 vào thời điểm quân đội Hoa Kỳ đang phải vật lộn để đối phó với mối đe dọa từ tàu ngầm U-boat. Vào ngày 30 tháng 5 năm 1943, Tướng Hap Arnold ra lệnh thành lập Đơn vị Phát triển Tấn công Tìm kiếm Trên biển, một đơn vị thử nghiệm nhằm phát triển các chiến thuật mới và vũ khí chống tàu ngầm. Nó có trụ sở tại Langley Field và gần như trả lời trực tiếp cho Arnold, phần lớn bỏ qua chuỗi mệnh lệnh thông thường.

Vào ngày 8 tháng 6 năm 1942, đơn vị mới chính thức được kích hoạt. Cùng ngày, Nhóm tấn công tìm kiếm trên biển số 1 và Hải đội tấn công tìm kiếm trên biển số 2 đều được thành lập, và vào ngày 17 tháng 6, chúng được kích hoạt và được giao cho Đơn vị phát triển tấn công tìm kiếm trên biển. Lúc đầu, nhóm được trang bị những chiếc B-18 được trang bị ASV, nhưng theo thời gian đã có thêm nhiều loại máy bay khác xuất hiện.

Nhóm mới đã dành phần lớn thời gian để thực hiện các thiết bị thí nghiệm và thử nghiệm các chiến thuật mới. Phi đội tấn công tìm kiếm trên biển số 2 cũng thực hiện một số chuyến tuần tra chống tàu ngầm với số lượng hạn chế, bắt đầu từ tháng 7 năm 1942.

Vào tháng 12 năm 1942, Phi đội tấn công tìm kiếm trên biển số 3 được thành lập để vận hành một số máy bay B-24 mới mua được. Nhóm cũng được cho mượn một phi hành đoàn RAF giàu kinh nghiệm vận hành hai Người giải phóng được trang bị radar. Hải đội 3 được sử dụng cho các cuộc thử nghiệm và tuần tra tương tự như Hải đội 2, với các cuộc tuần tra chống tàu ngầm bắt đầu vào tháng 1 năm 1943.

Hai phi đội có xu hướng đạt được kết quả tốt trong các cuộc tuần tra chống tàu ngầm của họ, ít nhất một phần là do trang bị vượt trội của họ. Họ cũng đã thực hiện nhiều thí nghiệm và thử nghiệm có giá trị giúp cải thiện hiệu suất chung của máy bay chống ngầm Đồng minh.

Trong suốt năm 1942, Hải quân và Không quân lục quân đã tham gia vào một cuộc tranh cãi kéo dài về việc kiểm soát các máy bay ném bom tầm xa trên bờ và máy bay chống tàu ngầm. Cuối cùng, Không quân Hoa Kỳ vẫn giữ quyền kiểm soát các máy bay ném bom tầm xa (đặc biệt quan trọng khi B-29 Superfortress bắt đầu hình thành) trong khi Hải quân Hoa Kỳ đảm nhận nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm tầm xa. Sự thay đổi được thực hiện vào mùa thu năm 1943 và trong thời gian trung hạn, nhóm sẽ tan rã, nhưng trong ngắn hạn, nó dẫn đến việc có được một phi đội thứ ba.

Phi đội 362 Bắn phá (Hạng nặng) đã được kích hoạt vào tháng 7 năm 1942, nhưng đã trở thành Phi đội Chống tàu ngầm số 18 (Hạng nặng) vào ngày 28 tháng 11 vào ngày 28 tháng 11 năm 1942 và gia nhập Cánh chống tàu ngầm thứ 25 vào ngày 30 tháng 12 năm 1942. Nó được đưa vào sử dụng như một Đơn vị Huấn luyện Hoạt động và có trụ sở tại Langley Field. Vào ngày 23 tháng 10 năm 1943, chiếc thứ 18 được giao cho Nhóm Tấn công Tìm kiếm Trên biển số 1, và cùng ngày nhóm này được đổi tên thành Hải đội Tấn công Tìm kiếm Trên Biển số 4. Phi đội mới được chuyển giao được sử dụng để huấn luyện phi hành đoàn trong các cuộc tìm kiếm và tấn công do radar dẫn đường.

Sau khi thay đổi nhiệm vụ, nhóm được sử dụng để huấn luyện radar, nhưng với mục tiêu chống tàu ngầm không còn nhu cầu rõ ràng nữa, Nhóm và cả ba phi đội của nó đã bị giải tán vào ngày 10 tháng 4 năm 1944.

Sách

Chưa giải quyết

Phi cơ

Pháo đài bay Boeing B-17
Douglas B-18
Người giải phóng B-24 hợp nhất

Mốc thời gian

8 tháng 6 năm 1942Được cấu thành là Nhóm tấn công tìm kiếm trên biển đầu tiên (Trung bình)
17 tháng 6 năm 1942Đã kích hoạt
Tháng 6 năm 1943Được chỉ định lại Nhóm tấn công tìm kiếm trên biển số 1 (Hạng nặng)
Tháng 9 năm 1943Đơn vị tấn công tìm kiếm trên biển số 1 được thiết kế lại
Tháng 11 năm 1943Nhóm tấn công tìm kiếm đầu tiên được chỉ định lại
10 tháng 4 năm 1944Tan rã

Chỉ huy (có ngày bổ nhiệm)

Col William C Dolan: 17 tháng 6 năm 1942-10 tháng 4 năm 1944

Cơ sở chính

Langley Field, Va: 17 tháng 6 năm 1942-10 tháng 4 năm 1944

Đơn vị thành phần

Hải đội Tìm kiếm Biển số 2: 1942-1944
Hải đội Tìm kiếm Biển 3: 1942-1944
Phi đội tìm kiếm trên biển số 4 (trước đây là Phi đội chống tàu ngầm số 18): 1943-1944

Phân công

Tháng 6 năm 1942 đến tháng 11 năm 1943: Trực tiếp đến AAF
Tháng 11 năm 1943 trở đi: Lực lượng Không quân đầu tiên


1962-75

Ngày 14 tháng 9 năm 1962 - Đại đội 560 MP, từ Fort Hood, TX, đến Việt Nam. Đây là đơn vị quân cảnh đầu tiên đến Việt Nam, được giao nhiệm vụ tại Vũng Tàu.

Ngày 8 tháng 3 - Sau sáu tuần hành trình từ Nhật Bản, lúc 9:03 sáng (giờ địa phương), dưới bầu trời u ám và mưa phùn, bốn tàu của Lực lượng Đặc nhiệm 76 (USS Mount McKinley, Henrico, Union và Vancouver) đến Đà Nang, Vietnam. Đây là những binh lính chiến đấu đầu tiên của Mỹ triển khai tới Việt Nam. Hai tiểu đoàn đổ bộ (Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến và Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 3 Thủy quân lục chiến) từ Sư đoàn 3 Thủy quân lục chiến sẽ tham gia với 23.000 nhân viên lực lượng Hoa Kỳ đã có sẵn. 3.500 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ đến được chào đón bởi những người đi ngắm cảnh, gái mại dâm và bốn binh sĩ Quân đội Hoa Kỳ.

24 tháng 3 - Tiểu đoàn 716 MP đến Việt Nam.

Ngày 17 tháng 6 - Nhóm MP thứ 89, được kích hoạt.

Tháng 7 - Các thành viên của Công ty MP số 1 đến Việt Nam, là một phần trong quá trình xây dựng của Mỹ.

28 tháng 7 - Đại đội 545 MP đến Việt Nam cùng với Sư đoàn kỵ binh số 1. Tháng 10 năm 1965 - Phần còn lại của Đại đội 1 MP đến Việt Nam.

Ngày 4 tháng 12 - SPC William S. Seippel, ở Pittsburgh, Pennsylvania, từ Đại đội C, nghị sĩ Bn thuộc Tiểu đoàn 716, giao chiến bằng súng với những kẻ khủng bố VC tại khách sạn Metropole ở Sài Gòn. Sau khi bị thương và hết đạn cho khẩu súng ngắn và khẩu súng lục của mình, anh ta ẩn nấp trong sảnh khách sạn. Sau đó, VC cho nổ một quả bom làm 8 người chết và 137 người khác bị thương.

Ngày 1 tháng 4 - SPC Michael T. Mulvaney, 23 tuổi, người Philippines, và PFC Patrick J. Brems, 19 tuổi, ở Mahwah, New Jersey, từ Đại đội C, nghị sĩ thứ 716 Bn, bị giết ở Sài Gòn, khi VC ném bom Victoria BOQ.

Ngày 14 tháng 6 - Lữ đoàn 18 MP và Nhóm 16 MP chính thức được kích hoạt tại Fort Meade, Maryland.

Ngày 26 tháng 9 - Kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Binh chủng Công an nhân dân. Cũng vào ngày này, Lữ đoàn 18 MP bắt đầu hoạt động tại Việt Nam.

Ban đầu, lữ đoàn này có nhiệm vụ chỉ huy và kiểm soát tất cả các đơn vị quân cảnh cấp không đoàn tại Việt Nam. Cho đến lúc đó, những đơn vị đó nằm dưới sự kiểm soát của các chỉ huy trong khu vực tương ứng của họ, chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ an ninh bên cạnh việc duy trì luật pháp và trật tự. Bộ Tư lệnh Việt Nam mong muốn quân cảnh tham gia tích cực hơn nữa trong việc hỗ trợ trực tiếp các hoạt động tác chiến. Mặc dù lúc đầu, Lữ đoàn 18 MP thực hiện nhiều nhiệm vụ bất thường và lạ lẫm, nhưng theo thời gian, những nhiệm vụ không quen thuộc này đã trở thành những nhiệm vụ phổ biến của MP. Quân cảnh thực hiện các nhiệm vụ luật lệ và trật tự, an ninh thể chất, kiểm soát giao thông và giam giữ thông thường. Trong các hoạt động chiến đấu, chúng có thể được tìm thấy trong những chiếc áo khoác ngụy trang tuần tra trong các khu rừng và làng mạc gần Long Bình và các khu vực khác trên khắp Việt Nam.

  • Nhóm nghị sĩ thứ 8 giám sát tất cả các công việc điều tra tội phạm
  • Nhóm 16 MP được giao cho các vùng chiến thuật I và II và
  • Liên đoàn 89 MP phân bổ cho các vùng III và IV chiến thuật.
    , , , , , , , ,
  • một công ty chăn nuôi chó,
  • bảy đại đội bộ binh riêng biệt.

Tháng 2 - Lữ đoàn tham gia "Chiến dịch Junction City" với Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh và "Chiến dịch Thayer II" với Sư đoàn 1 Kỵ binh (Cơ động trên không). Trong cuộc hành quân sau này, các thành phần của Đại đội C, Tiểu đoàn 504 Quân cảnh, gia nhập Sư đoàn 1 Kỵ binh. Ngoài việc hộ tống tù nhân và bảo vệ tuyến đường, MP còn thực hiện nhiệm vụ "bắt chuột trong đường hầm", xác định vị trí và phá hủy nhiều đường hầm của đối phương, cũng như hỗ trợ bắt giữ nhiều binh lính bị tình nghi của đối phương.

Tháng 4 - Lữ đoàn hỗ trợ "Lực lượng Đặc nhiệm Oregon" (sau này được tăng cường và tái thiết kế là Sư đoàn 23 Bộ binh hay "Sư đoàn Mỹ") ở phía Nam tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài nhiều nhiệm vụ khác, lữ đoàn cung cấp an ninh và trinh sát tuyến đường cũng như hộ tống đoàn xe.

Mùa hè - Lữ đoàn tiếp tục hỗ trợ cho các hoạt động tác chiến quy mô lớn như "Billings", "Paddington" và "Euporia." Trong suốt thời gian đó, quân cảnh liên tục phải đối mặt với các cuộc phục kích, gài mìn và bắn tỉa trong loại nhiệm vụ quan trọng và nguy hiểm nhất.

Tháng 7 - Xe bọc thép V-100 Commando trở thành sự bổ sung đáng hoan nghênh cho các Tiểu đoàn Cảnh sát Quân sự 720 và 504. Trước khi họ đến, Lữ đoàn Cảnh sát Quân sự 18 phụ thuộc vào súng xe jeep. V-100 đã được quân cảnh Việt Nam thử nghiệm và đánh giá, dẫn đến việc cấp phép mua sắm 72 chiếc. Chúng đã tạo ra một động lực lớn về mặt tinh thần cho MP và là một động lực tuyệt vời cho những chiếc xe jeep súng. Do các cam kết bổ sung của quân cảnh và thực tế là các máy bay V-100 của tiểu đoàn được bố trí ở Sài Gòn để hỗ trợ Tiểu đoàn 716 MP, Tiểu đoàn 720 MP đã có được 12 tàu sân bay bọc thép được trang bị súng máy 50 ly. Tầm quan trọng của việc đưa các tàu sân bay vào hoạt động càng sớm càng tốt đã không để lại thời gian cho MP nhận được hướng dẫn chính thức về hoạt động của phương tiện này. Các nghị sĩ thay vào đó đã chủ động và tự học hỏi.

Ngày 11 tháng 9 - Một cuộc tấn công và tìm kiếm, "Chiến dịch Corral," xảy ra. Nó được thiết kế để xác định vị trí và tiêu diệt bất kỳ khả năng tấn công áp sát nào của đối phương nhằm vào khu phức hợp Bưu điện Long Bình. Chiến dịch bắt đầu vào đúng 1800 giờ ngày 11 tháng 9 năm 1967, khi âm thanh ầm ầm của máy bay trực thăng, xe tăng và thiết giáp chở đội ngũ MP của Sư đoàn bộ binh 9 tiến vào khu vực dàn trận. Trong vòng năm phút tiếp theo, hơn 250 người từ Tiểu đoàn Cảnh sát Quân sự 720 đã hội tụ đến khu vực này, được trang bị súng xe jeep, xe V-100 Commando, đèn rọi, loa phóng thanh và hàng rào thép gai. Khi bộ binh phong tỏa và bảo đảm khu vực cũng như hỗ trợ cho các trực thăng trực thăng bay lượn trên bầu trời, những người lính của đoàn 720 đã băng qua các túp lều, bụi rậm và cánh đồng lúa. Mục tiêu của họ là tiêu diệt Việt Cộng, cảm tình viên VC, tiếp liệu của địch và hàng lậu. Khi những tia nắng hoàng hôn buông xuống chuyển ngày thành đêm, pháo sáng và đèn rọi khổng lồ đã cho phép chiếc 720 tiếp tục tìm kiếm tích cực và chuyên sâu suốt ngày đêm.

Tháng 9 - Sau hành động này, lữ đoàn được giao trách nhiệm đảm bảo an ninh cho khu vực hai mươi hai dặm vuông phía nam Long Bình, do đó trở thành đơn vị quân cảnh đầu tiên trong lịch sử có khu vực chiến thuật chịu trách nhiệm trong một khu vực tác chiến. Khu vực này có hàng trăm sông suối nhỏ, nơi quân cảnh tổ chức các cuộc phục kích ban đêm để ngăn chặn Việt Cộng đang sử dụng các tuyến đường thủy này làm đường xâm nhập. Các hoạt động khác của cảnh sát quân sự bao gồm truy quét, tuần tra trinh sát, và vũ trang cũng như các hoạt động tìm kiếm. Tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của bộ binh, cảnh sát quân sự đổi mũ bảo hiểm sáng bóng và áo giáp của họ lấy mũ bụi và áo gi lê. Họ tiếp tục tiến hành các hoạt động đơn vị nhỏ ở miền Nam Việt Nam cho đến ngày 31 tháng 1 năm 1968 khi "Cuộc tấn công TẾT" bắt đầu.

Ngày 30 tháng 1 - Tại Ban Mê Thout, ngay sau nửa đêm, Nghị sĩ SPC Ron McCollar, bắt đầu dọn lính Mỹ ra khỏi năm quán rượu của làng, do tin tưởng vào một cuộc tấn công của VC sắp xảy ra. Lúc 1:35 sáng, 2.000 quân địch từ Trung đoàn 33 Cộng quân và Tiểu đoàn 301 VC Địa phương quân, được yểm trợ bằng hỏa tiễn và súng cối, tấn công thành phố và các cơ sở quân sự trong khu vực. Ngày 31 tháng 1 - Bắt đầu "Cuộc tấn công TẾT 68". Tại Long Bình, một quân cảnh thuộc Tiểu đoàn 95 MP và một quân cảnh khác từ Đại đội 212 MP thiệt mạng trong các cuộc tấn công vào Kho tiếp tế đạn dược Long Bình. Tại Đà Lạt, hai quân cảnh bị thương khi Việt Cộng tấn công và phá hủy các đồn MP bằng súng cối và hỏa tiễn. Tại Vĩnh Long, một quân cảnh thuộc Trung đội 148 MP bị thương trong một cuộc tấn công vào Xưởng MP. Tại Kontum và Pleiku, quân cảnh của Đại đội B, Tiểu đoàn 504 MP bắt đầu trận chiến chống lại các tay súng bắn tỉa Việt Cộng kéo dài đến khoảng ngày 7 tháng Hai. Tại Nha Trang, Việt Cộng tấn công Đại đội 272 MP. Cuộc tấn công bị đẩy lùi và khu vực này được giữ vững. Quân cảnh thuộc Tiểu đoàn 720 MP hỗ trợ lực lượng chiến đấu đẩy lùi các cuộc tấn công ở Biên Hòa, Thủ Đu, TP Cần Thơ và Sóc Trăng.

Ngày 2 tháng 2 - Tại Ban Mê Thout, ba quân cảnh của Đại đội 981 MP bị thương trong một vụ nổ.

Ngày 3 tháng 2 - Tại Qui Nhơn, một quân nhân thuộc Đại đội 127 MP bị giết trong cuộc giao tranh trên đường phố với Việt Cộng. Trong đêm Việt Cộng tấn công Cầu Tân Cảng, giữa Biên Hòa và Sài Gòn. Trung đoàn 273 VC thành công trong việc đánh chiếm đầu phía đông của cây cầu, nhưng MP của Tiểu đoàn 716 MP và các thành viên của Phi đoàn 5 Kỵ binh VNCH đã chiếm lại cây cầu trong một trận giao tranh ác liệt.

Ngày 6 tháng 2 - "Cuộc tấn công TẾT" ở khu vực Sài Gòn được tuyên bố kết thúc, nhưng giao tranh sẽ tiếp tục trong thành phố trong vài tuần nữa. Trong khoảng thời gian một tuần này, tổng thiệt hại cho Tiểu đoàn 716 MP là 27 người chết và 45 người bị thương.

Ngày 5-9 tháng 5 - Ở Việt Nam cuộc Tổng tấn công mùa Xuân, hay còn gọi là "Tết" thứ hai bắt đầu. Các cuộc tấn công được thực hiện nhằm vào 122 cơ sở quân sự, sân bay và thị trấn, bao gồm cả Sài Gòn.

Ngày 28 tháng 5 - SSG John H. Wilkens, 26 tuổi ở Thành phố New York, New York, SPC Dennis R. Mason, 20 tuổi ở Argyle, Wisconsin và PFC Roy W. Neal, 21 tuổi, ở Blountville, Tennessee, tất cả đều đến từ A Co , MP Bn thứ 720, thiệt mạng khi xe jeep mang súng của họ bị trúng đạn RPG, khi đang đi tuần tra định kỳ, cách Cầu Newport khoảng nửa dặm về phía bắc.

23 tháng 6 - Vào lúc nửa đêm, cuộc chiến ở Việt Nam trở thành cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (sáu năm, sáu tháng và một ngày). Ngày bắt đầu từ ngày 22 tháng 12 năm 1961, với cái chết của SPC Livingston. Cuộc chiến dài nhất trước đó là Chiến tranh Cách mạng, kéo dài sáu năm sáu tháng.

Ngày 30 tháng 4 - Sức mạnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đạt đỉnh 543.400

Ngày 30 tháng 6 - SGT Eugene T. Cox, 21 tuổi, ở Jackson Heights, New York và PFC James H. Workman, 20 tuổi, ở Beaver Falls, Pennsylvania, hai cảnh sát quân sự của Đại đội C, Tiểu đoàn 716 MP, trả lời báo cáo về một người say rượu lính trong quán bar ở Sài Gòn. Họ bị Trung Tá Nguyễn Viết Cẩn, chỉ huy trưởng Tiểu Đoàn Nhảy Dù bảo vệ Phủ Tổng Thống Việt Nam bắn chết. Không có cáo buộc nào chống lại sĩ quan QLVNCH.

Tháng 10 - Một cảnh sát quân sự thuộc Tiểu đoàn 716 Bn bị thiếu tá Biệt động quân VNCH chặt đứt tay trong một cuộc giao tranh ở Sài Gòn.

Trong năm nay, số lượng tù nhân quân sự Hoa Kỳ đạt đỉnh điểm khi 10.450 tù binh quân sự bị giam giữ tại Việt Nam, nhiều nhất là tại Trại tạm giam Quân đội Hoa Kỳ tại Long Bình, được gọi là Nhà tù Long Bình (LBJ). Tính đến cuối năm, đã có 117 vụ "từ chối chiến đấu" và 239 vụ "đánh tráo" được báo cáo ở Việt Nam. Tổng số lính Mỹ thiệt mạng hiện nay là 40.024 người.

"Gian lận" và "Chống từ chối" ở Việt Nam

Tính đến cuối năm, đã có 131 trường hợp "từ chối chiến đấu" và 383 sự cố "đánh lừa" được báo cáo tại Việt Nam.

Tháng 9 - Quân cảnh tiến hành bao vây Vịnh Cam Ranh chống lại 14 binh sĩ của Sư đoàn Công binh 35 không chịu ra khỏi boong-ke của họ.

Ngày 9 tháng 10 - Các binh sĩ của Đệ nhất Kỵ binh lại phạm phải "từ chối chiến đấu" khi được yêu cầu tổ chức tuần tra.

Tháng 10 - Cảnh sát quân sự được đưa đến một căn cứ quân sự gần Đà Lạt, sau hai lần tấn công vào mạng sống của sĩ quan chỉ huy. Kỷ luật được khôi phục sau khi nghị sĩ đã có mặt được một tuần. Tính đến cuối năm, đã có 333 vụ việc "đánh cắp thông tin" được báo cáo tại Việt Nam.

Tháng 4 - Các thành viên của Lữ đoàn 196 Bộ binh (Biệt động) từ chối ra ngoài hỗ trợ các cuộc hành quân của QLVNCH.

29 tháng 6 - Lữ đoàn chiến đấu cuối cùng, Lữ đoàn bộ binh 196 (Biệt động), rút ​​khỏi Việt Nam.

Ngày 18 tháng 7 - Nữ diễn viên Jane Fonda phát thông điệp phản chiến trên Đài phát thanh Hà Nội cho quân đội Mỹ.

23 tháng 8 - Tiểu đoàn chiến đấu cuối cùng, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 21 Bộ binh, rút ​​khỏi Việt Nam. Tính đến cuối năm, đã có 58 vụ “đánh tráo” được báo cáo tại Việt Nam.

Trung tá William B. Nolde của Mount Pleasant, MI, trở thành thương vong chính thức cuối cùng của cuộc chiến khi ông bị giết bởi một quả đạn pháo tại An Lộc, chỉ 11 giờ trước khi hiệp định đình chiến cuối cùng có hiệu lực.

Ngày 28 tháng 1 - Một lệnh ngừng bắn bắt đầu bằng đợt pháo cuối cùng dừng lại lúc 8:05 sáng (địa phương).

Ngày 12 tháng 2- Những tù binh Mỹ đầu tiên được Bắc Việt Nam thả về Căn cứ Không quân Clark, ở Philippines.

Ngày 29 tháng 3 - Những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, do đó chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bỏ lại phía sau chỉ có 8.500 kỹ thuật viên dân sự Hoa Kỳ và một đội nhỏ lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ để bảo vệ đại sứ quán Hoa Kỳ.

Ngày 30 tháng 3 - Lữ đoàn 18 MP, đơn vị mang màu chủ lực cuối cùng rời Việt Nam, ngừng hoạt động tại Oakland, California. Vào thời điểm cao điểm của cuộc chiến tranh Việt Nam, có hơn 30.000 quân cảnh phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ. Lữ đoàn cảnh sát quân sự được thử nghiệm chiến đấu lớn nhất và duy nhất trong lịch sử của Quân đoàn Cảnh sát Quân sự đã nổi bật trong hơn sáu năm hoạt động và làm nhiệm vụ tại Việt Nam.

Với việc xuất bản DA GO số 6, Tiểu đoàn 716 MP trở thành tiểu đoàn cảnh sát quân sự được trang trí cao nhất trong Quân đội Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, tiểu đoàn đã phục vụ trong 16 chiến dịch, thêm bảy trích dẫn đơn vị vào đó là một trích dẫn năm 1945.

Ngày 29 tháng 4 - Hạ sĩ Charles McMahon, Jr., và Lance Hạ sĩ Darwin Judge, USMC, là những quân nhân Hoa Kỳ cuối cùng thiệt mạng tại Việt Nam. Họ bị trúng đạn trong một cuộc tấn công bằng tên lửa vào Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, trong cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt vào chính phủ.

Ngày 30 tháng 4 - Lúc 7 giờ 53 phút sáng, 11 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ (đội cuối cùng trong số 865 lính thủy đánh bộ được giao nhiệm vụ canh gác Đại sứ quán Hoa Kỳ) mang cờ Hoa Kỳ, được trực thăng vận từ sân bay trực thăng trên sân thượng của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Ba giờ sau, chiến tranh Việt Nam cuối cùng cũng kết thúc khi xe tăng Bắc Việt đột nhập vào Phủ Tổng thống.

Ngoài các chức năng cảnh sát này, lữ đoàn còn có quyền kiểm soát một khu vực rộng 22 dặm như là khu vực trách nhiệm của riêng mình, bao gồm cả các hoạt động quân sự và các chương trình hành động dân sự.

Lữ đoàn Cảnh sát Quân sự 18 cũng đã thực hiện "nhiệm vụ trên biển" trong chiến tranh Việt Nam bằng cách cung cấp an ninh cảng và sông. Một ví dụ về loại hình hoạt động này đã được thực hiện tại một cảng nhỏ của Vịnh Vũng Tàu. Cảng này là một khu vực quan trọng vì nó là điểm xuất phát của nhiều nguồn cung cấp. Đại đội Cảnh sát Quân sự 218, nhận trách nhiệm bảo vệ an ninh của vịnh rộng 6 dặm vuông này bằng cách sử dụng các tàu tuần tra trên sông được trang bị súng máy .50 cỡ nòng. Cuộc hành quân này được bổ sung bằng việc sử dụng một chiếc Boston Whaler để tuần tra bờ biển để ngăn chặn những người bơi lội của Việt Cộng trước khi họ xuống nước.

Hộ tống đoàn xe cũng là nhiệm vụ thường xuyên của nghị sĩ. Một trong những nhiệm vụ như vậy, được nhiều người coi là nguy hiểm nhất, là một đoàn xe vận tải từ Qui Nhơn đến Plei Djereng để hỗ trợ các cuộc hành quân của Campuchia. Chuyến đi dài hơn 150 dặm vượt qua địa hình hiểm trở đã mời Việt Cộng phục kích. Con đường đi qua đó đã biến đổi từ vỉa hè đầy vết rỗ thành đường đất cho đến khi cuối cùng trở thành một con đường mòn trong rừng.


Nội dung

Kích hoạt và đào tạo ban đầu [sửa | chỉnh sửa nguồn]

Nhóm Máy bay Chiến đấu 352d được kích hoạt tại Bradley Field, CT, vào ngày 1 tháng 10 năm 1942 và được trang bị máy bay chiến đấu Republic P-47 Thunderbolt. Các phi đội ban đầu được chỉ định là các phi đội 21 và 34 (dưới sự chỉ huy của Thiếu úy John C. Meyer) có từ năm 1917 và đã tham gia phòng thủ Philippines, cũng như Phi đội 328 mới được kích hoạt. Vào ngày 18 tháng 5 năm 1943, chiếc thứ 21 và 34 được đổi tên thành các phi đội máy bay chiến đấu 486 và 487.

Nhóm tiếp nhận nhân sự mới di chuyển nhiều lần từ Bradley Field đến Westover Field, MA vào tháng 11 và sau đó đến Trumbull, CT vào tháng 1 năm 1943, nơi họ tiếp nhận phần lớn nhân sự vào cuối năm trong khi tiếp tục thu nhận nhân sự, vật tư và máy bay để bắt đầu huấn luyện triển khai cuối cùng. Khi máy bay đã được nhận và phi công thành thạo, các phi đội được giao nhiệm vụ cảnh báo trên Thành phố New York hoạt động bên ngoài Sân bay LaGuardia, nơi các phi công thường thực hiện các động tác nhào lộn khi tiếp quản tòa tháp, thường xuyên gây ồn ào Sân vận động Yankee và tham gia các trận không chiến trong thành phố qua đó thu hút được sự quan tâm của các cơ quan chức năng. Ngay sau đó, có thể là do những trò hề của họ tại La Guardia, chiếc 328 đã được chuyển đến Mitchel Field vào tháng Hai và được gia nhập cùng chiếc 34 vào tháng Ba. Chiếc thứ 21 được chuyển đến Farmingdale, NY vào ngày 8 tháng 3. Việc đào tạo đang ở giai đoạn nâng cao khi nhóm được tập hợp lại tại Westover Field, MA vào cuối tháng 5 với dự kiến ​​lệnh triển khai. Lệnh triển khai được đưa ra vào tháng 6 và nhóm di chuyển đến Trại Kilmer, NJ để chuẩn bị lên tàu viễn dương "Nữ hoàng Elizabeth" rời Scotland vào ngày 1 tháng 7 năm 1943 và phục vụ trong Lực lượng Không quân số 8.

Các hoạt động chiến đấu [sửa | chỉnh sửa nguồn]

Các nhiệm vụ đầu tiên của 352d FG được thực hiện vào ngày 9 tháng 9 năm 1943 khi Thunderbolts thực hiện nhiệm vụ hộ tống trên Biển Bắc bảo vệ máy bay ném bom Pháo đài bay B-17 trở về sau một cuộc không kích trên lục địa châu Âu. Các cuộc giao tranh với Không quân Đức diễn ra thường xuyên, nhưng phải đến ngày 26 tháng 11, Thiếu tá John C. Meyer của Lực lượng FS 487 mới ghi được chiến thắng đầu tiên của Nhóm trước châu Âu - một máy bay chiến đấu Messerschmitt Bf 109. Meyer sau đó trở thành phó chỉ huy trưởng của 352d trong thời kỳ hoạt động thành công nhất của nó.

Vào ngày 8 tháng 4 năm 1944, chiếc 352d đã đổi chiếc P-47 động cơ hướng tâm lấy máy bay chiến đấu P-51 Mustang kiểu dáng đẹp của Bắc Mỹ. Sau đó, Tập đoàn đã sử dụng dấu mũi xanh độc đáo của họ. Truyền thuyết giữa các nhà sử học hàng không rằng Không quân Đức đã gọi chiếc 352d là "Những con khốn có màu xanh da trời ở Bodney." Cho dù điều này có đúng hay không là không liên quan bởi vì thực sự, 352d FG chắc chắn đã thành công. Cuối cùng, Tập đoàn đã bay gần 60.000 giờ chiến đấu trong 19 tháng, tiêu diệt 519 máy bay địch trên không (cao thứ 4 trong số 15 cụm của Bộ tư lệnh Tiêm kích VIII), 287 chiếc trên bộ và 26 chiếc trên không vì tổn thất trong chiến đấu của 118 máy bay. Các phi công đáng chú ý của 352d bao gồm P-51 át chủ bài, Thiếu tá George Preddy và Đại tá John C. Meyer, Đại úy Donald S. Bryan, Trung úy Robert "Punchy" Powell, Đại úy John "Smokey" Stover, Đại úy John Thornell, Đại úy William C. Miller, Đại úy Raymond Littge và Đại úy William T. Whisner.

Ngày đầu năm mới năm 1945 tại Y-29 [sửa | chỉnh sửa nguồn]

352d FG P-51 hộ tống B-24H từ Cụm ném bom 458.

Một trong những thành tích lớn nhất của 352d là chiến thắng to lớn trước Không quân Đức vào ngày 1 tháng 1 năm 1945. Vào tháng 12 năm 1944, chiếc 352d nhận được lệnh triển khai tới một chiến trường xa xôi ở Bỉ được chỉ định là "Y-29", cách As khoảng 3 dặm về phía nam-đông nam. Sau khi đến vào ngày 22, bắt đầu hoạt động vào ngày 24. Thời tiết xấu đã cản trở các hoạt động bay và Trận chiến Bulge đang hoành hành gần đó. Đồng minh không biết, Không quân Đức đang chuẩn bị một cuộc tấn công vào Ngày đầu năm mới được chỉ định là "Chiến dịch Bodenplatte" nhằm vào mười sáu sân bay Đồng minh đã triển khai ở phía trước trong khu vực. Tương tự như việc chuẩn bị cho Trận Bulge, Không quân Đức đã âm thầm chuẩn bị và tập hợp hầu như mọi máy bay chiến đấu hiện có của Không quân Đức trên Mặt trận phía Tây và có khoảng 800 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom sẵn sàng thực hiện một cuộc tấn công khi `` Đồng minh có thể mất cảnh giác sau đó lễ đón giao thừa. Khái niệm rất đơn giản - một cuộc tấn công hàng loạt vào các căn cứ lục địa mới thành lập để tiêu diệt càng nhiều máy bay Đồng minh trên mặt đất và giảm bớt áp lực lên các lực lượng mặt đất đang tham gia trận chiến Bulge. Tuy nhiên, nhiều phi công của Không quân Đức được đào tạo kém và không có đủ kinh nghiệm cần thiết để chiến đấu với các phi công Đồng minh dày dạn kinh nghiệm.

John C. Meyer đã trở thành Phó Chỉ huy trưởng của Sư đoàn 352 vào tháng 12 và bây giờ là một trung tá. Anh ta nghi ngờ rằng quân Đức có thể sử dụng ngày đầu năm mới như một cơ hội để tấn công và quyết định chuẩn bị sẵn sàng Y-29 khi mặt trời mọc. Trong khi mặc cả với các nhà chức trách cấp cao hơn tại Lực lượng Không quân số 9 suốt đêm, ông ra lệnh cho một phi đội được giao nhiệm vụ quét dọn buổi sáng và ra lệnh cho các phi công không tham gia vào bất kỳ bữa tiệc rượu nào vào đêm hôm trước. Mặc dù không được phép cho đến tận 0800, anh đã gia nhập Phi đội Máy bay Chiến đấu 487 của Phi đội 352 trong cái lạnh buốt giá của thời tiết tuyết lúc 05 giờ 30 trước những chiếc Mustang của họ và đang ngồi trong buồng lái của chiếc máy bay dẫn đầu. Khi những chiếc Mustang đang chờ cất cánh cho cuộc tuần tra buổi sáng, sân bay của họ bị tràn ngập bởi các máy bay chiến đấu của Không quân Đức từ Jagdgeschwader 11.

Tuy nhiên, khi nhóm hơn 50 máy bay Bodenplatte của JG11 xuất hiện trên Y-29, 12 chiếc Mustang mũi xanh của 487 FS đang báo hiệu cất cánh với Trung tá Meyer trên chiếc Mustang dẫn đầu. Trong khi tăng tốc xuống đường băng phủ đầy tuyết, Trung tá Meyer đã mở tài khoản bằng cách bắn hạ một máy bay chiến đấu Đức trong một pha tạt đầu khi nó cố gắng lao vào một chiếc C-47 đang đậu bên cạnh đường băng. Người Đức đã không nhận thấy chiếc P-51 đang cất cánh. Meyer bắt đầu khai hỏa trước khi các bánh xe của anh ta rút lại hoàn toàn và hạ gục chiếc Fw-190. Mặc dù bị bao vây bởi các máy bay chiến đấu căng thẳng, nhưng mỗi người trong số 487 của FS đã ra khỏi mặt đất để gặp những kẻ tấn công của họ.

Trong trận chiến diễn ra sau đó, 24 máy bay chiến đấu của Không quân Đức đã bị tiêu diệt bởi 352d FG. Tuy nhiên, một phi công - Trung úy Dean Huston - đã buộc phải hạ gục chiếc P-51 của mình sau khi hệ thống làm mát của nó bị kẹt trước hỏa lực của các xạ thủ phòng không Anh nhiệt tình. Hai phi công của chiếc 487 khẳng định 4 máy bay chiến đấu của Đức bị bắn hạ. Thứ 487 đã nhận được Danh hiệu Đơn vị Xuất sắc. Meyer, Đại úy Stanford Moats và Đại úy William T. Whisner, người đã ghi bàn thứ tư trong khi chiếc Mustang của anh ấy bắt đầu quá nóng do thiệt hại trong trận chiến, mỗi người đã được trao tặng Danh hiệu Dịch vụ Xuất sắc và bốn phi công khác được trao giải Ngôi sao Bạc. Mặc dù Tập đoàn Chiến đấu cơ 352d bị mất một vài máy bay do thiệt hại trong trận chiến, không một phi công nào bị mất trong trận chiến ngày đầu năm mới. Nhưng bi kịch chiến tranh không bao giờ xa. Vào buổi chiều cùng ngày, ngày 1 tháng 1 năm 1945, các máy bay chiến đấu của tàu chiến 328FS đang tuần tra trên bầu trời Asche thì phát hiện thứ mà họ cho là 4 máy bay địch đang lao tới. Do liên lạc vô tuyến với 328FS có động tĩnh, việc xác định máy bay đến quá muộn và một trong những máy bay tiếp cận đã bị bắn hạ, rơi gần làng Zutendall. Máy bay hóa ra là RAF Hawker Typhoons của Phi đội 183 từ Gilze-Rijen đang trên đường đến căn cứ mới của họ tại Chievres. Phi công thiệt mạng trong cơn bão bị bắn rơi là F / Lt. Don Webber.


Nhóm tấn công tìm kiếm thứ nhất (USAAF) - Lịch sử

Vào ngày 15 tháng 4 năm 1942, Sư đoàn 307 bắt đầu hoạt động như một đơn vị máy bay ném bom Pháo đài bay B-17 tại Geiger Field, Washington. Nhiệm vụ đầu tiên của nó là bảo vệ bờ biển Tây Bắc Hoa Kỳ và Alaska chống lại cuộc xâm lược vũ trang đã chuẩn bị cho nhóm cho vai trò sau này trong Nhà hát Thái Bình Dương của Thế chiến II.

Sau khi tuần tra bờ biển nước Mỹ trong 5 tháng, những chiếc B-17 của Phi đoàn 307 đã được thay thế bằng những chiếc B-24 nổi tiếng "Những người giải phóng". Sau đó, toàn bộ đơn vị được chuyển đến thành phố Sioux, Iowa, trong một thời gian huấn luyện ngắn. Sau khi hoàn thành chương trình làm quen kéo dài ba tuần, Phi đoàn 307 đã chuyển toàn bộ cán bộ và 35 máy bay ném bom đến Hamilton Field, California.

Ba ngày sau, các máy bay B-24 được triển khai đến Oahu thuộc quần đảo Hawaii. Một chiếc tàu chở hàng cũ của Na Uy từ từ vận chuyển những người còn lại của đoàn đến "Thiên đường Thái Bình Dương" của nó. Khi đến Oahu, mỗi phi đội trong số bốn phi đội của nhóm được chỉ định đến các địa điểm khác nhau của Hawaii, chiếc thứ 370 đến Kipapa, chiếc thứ 371 đến Sân bay Wheeler, chiếc thứ 372 đến Kabuka và chiếc thứ 424 đến Mokaleia. Tổng hành dinh của Sư đoàn 307 tập trung tại Hickam Field. Cuối cùng đã ổn định tại Oahu, các máy bay ném bom số 307 bắt đầu các nhiệm vụ tìm kiếm và tuần tra trên khu vực Thái Bình Dương xung quanh. Với chế độ cảnh giác 24 giờ, các máy bay ném bom phải ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công nào của hải quân nhằm vào quần đảo Hawaii. Các nhà ga cuối cùng đã được thiết lập trên Espiritu Santo, New Hebrides vào ngày 13 tháng 1 năm 1943 Guadalcanal, Quần đảo Solomon vào ngày 20 tháng 8 năm 1943 Los Negros, Quần đảo Admiralty vào ngày 1 tháng 6 năm 1944 Đảo Wake vào ngày 3 tháng 9 năm 1944 Morotai, New Guinea vào ngày 17 tháng 10, 1944 và Clark Field, Luzon, Philippines vào ngày 27 tháng 8 năm 1945.

Các máy bay ném bom của nhóm nhận lần đầu tiên tham chiến vào ngày 27 tháng 12 năm 1942. Hai mươi bảy máy bay của nhóm đã được triển khai từ Oahu đến Đảo Midway. Từ đây, những chiếc B-24 đã tổ chức cuộc tấn công đầu tiên nhằm vào một pháo đài của đối phương trên Đảo Wake. Kẻ thù đã bị bất ngờ trong cuộc đột kích trước. Trước khi các đơn vị Nhật Bản đáp trả bằng một loạt hỏa lực phòng không, máy bay ném bom số 307 đã bắn phá 90% thành trì Wake. Tất cả các máy bay đều trở về an toàn sau cuộc tập kích hàng loạt dài nhất thời đó. (Chính từ đó mà Đoàn ném bom 307 được gọi là "Biệt động quân Long").

Sư đoàn 307 di chuyển đến Guadalcanal vào tháng 2 năm 1943. Từ vị trí mới của họ trên quần đảo lớn nhất của Quần đảo Solomon, các máy bay ném bom của Nhóm tấn công các sân bay kiên cố của Nhật Bản và các cơ sở vận chuyển bên trong Tây Nam Thái Bình Dương. Tại Guadalcanal, các đội quân yểm trợ vòng tròn đã phải hứng chịu các đợt không kích lớn của máy bay ném bom và máy bay chiến đấu của đối phương. Vào một ngày ấm áp của tháng 3 năm 1943, ba đợt máy bay Nhật đã làm nổ tung sân bay, gây ra con số 307 thương vong lớn nhất trong cuộc chiến.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, chiếc 307 tham gia cuộc không kích lớn nhất trong Chiến tranh Nam Thái Bình Dương. Kết hợp với các yếu tố hải quân Hoa Kỳ, các máy bay ném bom của nhóm đã tấn công chiến xa và tàu buôn của đối phương tại Rabaul, New Guinea. Một bầy "Zeros" của Nhật Bản và lực lượng phòng không hạng nặng khai hỏa, phi cơ số 307 thả bom, khiến cảng Rabaul hoàn toàn đổ nát.

Trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến, máy bay của Sư đoàn 307 tiếp tục làm tê liệt kẻ thù đang suy nhược. Các phần tử của nhóm đã vô hiệu hóa lực lượng Nhật Bản tại các đảo Yap, Truk và Palau. Các cuộc tấn công ném bom nhằm vào các trung tâm vận tải biển của Nhật Bản ở Philippines đã ngăn cản đối phương giành được vị trí vững chắc hơn nữa trong khu vực. Một cuộc tấn công không có sự hỗ trợ của máy bay nhóm nhằm vào các nhà máy lọc dầu tại Balikapan, Borneo, ngày 3 tháng 10 năm 1944 đã giúp đảm bảo một chiến thắng của quân đồng minh ở Nam Thái Bình Dương.

Sau Ngày V-J, năm 1945, máy bay số 307 chở các cựu tù nhân chiến tranh Mỹ từ Okinawa đến Manila. Không còn cần thiết nữa, nhóm quay trở lại các tiểu bang vào tháng 12 năm 1945 và sau đó bị ngừng hoạt động. Chỉ còn rất ít thời gian để hình thành mạng nhện, Nhóm ném bom 307 đã được tái hoạt động vào ngày 4 tháng 8 năm 1946 và vẫn hoạt động cho đến ngày nay.

Khi ở Thái Bình Dương, chiếc 307 đã được trao tặng hai Bằng khen Đơn vị Xuất sắc, một cho cuộc không kích nhằm vào Truk vào ngày 29 tháng 3 năm 1944 và một cho cuộc tấn công nhằm vào các nhà máy lọc dầu tại Borneo vào ngày 3 tháng 10 năm 1944. Nhóm cũng được trao tặng Huân chương Tổng thống Philippines Unit Citation vì vai trò tích cực của nó trong chiến dịch Philippines.


Những người chỉ huy. Đại úy Bill Jarvis, ngày 1 tháng 5 năm 1942 Đại tá William A Matheny, ngày 22 tháng 5 năm 1942 Đại tá Oliver S Picher, ngày 19 tháng 8 năm 1943 Đại tá Glen R Birchard, ngày 27 tháng 10 năm 1943 Đại tá Robert F Burnham, ngày 28 tháng 3 năm 1944 Đại tá Clifford H Rees, tháng 11 năm 1944-không rõ. Đại tá Richard T King Jr, 4 tháng 8 năm 1946 Lt Col Clyde G Gillespie, 25 tháng 8 năm 1946 Lt Col Frank L Davis, tháng 9 năm 1946 Đại tá John G Eriksen, 13 tháng 1 năm 1947 Đại tá Clifford Heflin, 12 tháng 8 năm 1947 Lt Col John P Proctor, 15 tháng 2 năm 1950 Đại tá John A Hilger, ngày 13 tháng 3 năm 1950 Đại tá John M Reynolds, tháng 3 năm 1951 Đại tá William H Hanson, tháng 8 năm 1951 Đại tá John C Jennison Jr, ngày 14 tháng 2 năm 1952 Đại tá Raymond L Winn, ngày 16 tháng 5 năm 1952.

Các chiến dịch. World War II: Central Pacific Guadalcanal New Guinea Northern Solomons Eastern Mandates Bismarck Archipelago Western Pacific Leyte Luzon Southern Philippines China Offensive. Korean War: UN Defensive UN Offensive CCF Intervention 1st UN Counteroffensive CCF Spring Offensive UN Summer-Fall Offensive Second Korean Winter Korea Summer-Fall, 1952.

Decorations. Distinguished Unit Citations: Truk, 29 Mar 1944 Borneo, 3 Oct 1944. Philippine Presidential Unit Citation. Republic of Korea Presidential Unit Citation: [Aug] 1950-[Jun 1952].


B-24J-170-CO "Kit's Tadger"
Serial: 604/LR (44-40604)
Unit: 371st BS, 307th BG, 13th AF, USAAF
Mindoro, Philippines.


Discover the true history of the world

"That day, the human race remembered the terror of being dominated by them, and the shame of being held captive in a birdcage. " — Over 100 years ago, a natural predator of humanity appeared: the Titans, giant humanoid but mindless monsters whose sole purpose of existence seemed to be to devour humans. There was an insurmountable gap in power between them and mankind, and as a result, humanity was rapidly exterminated to the brink of extinction. The survivors responded by constructing three concentric walls: Wall Maria, Wall Rose and Wall Sina, which graced them with a century of peace. However, one day a Colossal Titan far larger than any other seen before breached the outer wall, allowing the smaller Titans to invade the human territory and forcing the survivors to retreat to the inner walls. Eren Jaeger, a boy whose mother was eaten during the invasion, vowed to wipe every last Titan off the face of the Earth, and joined the military determined to exact his revenge.

Pieck ( ピーク  Pīku ? ) is an Eldian who serves as one of Marley's Warriors and is the current inheritor of the Cart Titan.

Five years into the mission to reclaim the Founding Titan, Pieck journeys to Paradis Island with Zeke Jaeger and a contingent of Marleyan soldiers, using her Cart Titan to carry supplies for them. She is present as Zeke and the soldiers transform the inhabitants of a small village into Titans.
Pieck is one of the Warriors brought by Zeke to engage the Scout Regiment in Shiganshina District in the year 850. During the night before the Scouts' arrival, Pieck keeps watch for their movement in the desolate regions of Wall Maria south of Trost District. Upon seeing the advancing soldiers, she returns to the ruins of Shiganshina and informs Zeke, Reiner Braun, and Bertholdt Hoover of their approach.

Eren Yeager ( エレン・イェーガー  Eren Yēgā ? ) was a former member of the Survey Corps. He was the main protagonist of Attack on Titan. He lived in Shiganshina District with his parents until the fall of Wall Maria, where he impotently witnessed his mother being eaten by a Titan.

After Eren is woken from a nightmare by Mikasa, the two walk home through Shiganshina. They are harassed by Hannes, who begins teasing Eren for having apparently cried in his sleep. Eren is annoyed to see that Hannes and his friends are slacking off on the job and refuses to be placated by their claims that the Titans will never breach Wall Maria. Ώ] Leaving Hannes behind, the children stop again to watch the Survey Corps return from an expedition and Eren is crestfallen to see that the Corps has returned defeated.
Upon returning home, Mikasa reveals to Eren's mother that he wants to join the Survey Corps. Carla forbids him from joining due to the Corps' high mortality rate and begs Grisha to talk some sense into his son. Grisha ignores her objections and instead announces that he will be leaving for a few days on a trip, promising Eren that when he gets back he will show the boy what he has hidden in the basement of their home. Enthralled, Eren joins his mother and Mikasa in waving him off. Carla reminds him that she will not allow him to join the Survey Corps, and they exchange a heated argument before he runs off.

Above and Below ( 天地  Tenchi ? ) is the 75th episode of the Attack on Titan anime. It was produced by MAPPA.

Floch Forster, Hange Zoë, and a number of Jaegerists are traveling to a Forest of Giant Trees when they hear the explosion caused by Zeke Jaeger triggering a Thunder Spear. As Zeke succumbs to his wounds, a Titan crawls up to him and tears open its belly, stuffing his body inside.

Meanwhile, Yelena has Dot Pyxis and other dissenting members of the military assembled in Shiganshina District. Eren Jaeger goes to meet with the imprisoned Gabi Braun, to have her send out a distress call to Marley in exchange for saving Falco Grice. However, a disguised Pieck approaches Eren and claims she wishes to help him destroy Marley. As a proof of her intentions, she offers to show Eren the location of her fellow spies in Paradis Island.

Toward the Tree on That Hill ( あの丘の木に向かって  Ano Oka no ki ni Mukatte ? ) is the 139th chapter of the Attack on Titan manga, written and illustrated by Hajime Isayama.

After Eren Yeager's death at the hands of Mikasa Ackerman, many of his former comrades from Paradis Island begin recalling memories of him visiting them that were erased due to the power of the Founding Titan. Armin Arlert recalls how they discussed Eren being responsible for killing a vast majority of humanity during the Rumbling and reveals his true feelings about Mikasa, wishing to be able to live with her and the others in peace.

In the present, Armin notices his Titan form dissolving into steam and spots Mikasa approaching with Eren's head. He mourns his best friend's death and while Mikasa leaves to bury his remains, Armin approaches the Marleyan troops with the other Eldians and claims responsibility for the death of Eren. Several years pass and peace talks have begun between those living in Marley and the island of Paradis, which has begun mobilizing an army for the time when Marley and the other countries seek their revenge. As Mikasa sits beneath the tree where Eren is buried, she thinks about him and notices a bird flying to her. The bird picks at her scarf and adjusts it before flying away.

Episode #75 "Above and Below" has been released! Watch it legally at Crunchyroll or Funimation, and discuss it on Discussions, or Discord server.

Chapter #139 "Toward the Tree on That Hill" has been released! Read it legally at Amazon, comiXology or Crunchyroll, and discuss it on Discussions, or Discord server.

Happy birthday, Yui Ishikawa!

Episode #75 (March 29th, 2021)

Chapter #139 (April 11th, 2021)


The Ongoing Debate

The eyewitness accounts from Black Tulsa residents have been key to unraveling the truth about planes over the Greenwood district. To varying degrees, historians have accepted these accounts and tried to weigh this vast evidence against the plausibility of the bombings. “There is enough evidence from African American massacre survivors about seeing planes seemingly drop something from the planes and then hearing an explosion later on,” Ellsworth says. But he points out that massacre historians are still trying to figure out the “turpentine balls” referenced in some accounts. Ellsworth himself is less convinced of the reports of Molotov cocktails and turpentine balls: “I believe without a doubt that Greenwood was bombed from the air𠉫ut more likely with sticks of dynamite.”

In the Tulsa Riot Commission report, researchers concluded that some form of an aerial attack on the Greenwood District did take place, but they fell short of giving it the same prominence as did some of the eyewitnesses who lived through the massacre. “It is within reason that there was some shooting from planes and even the dropping of incendiaries, but the evidence would seem to indicate that it was of a minor nature and had no real effect in the riot,” wrote Richard S. Warner of the Tulsa Historical Society in the report. He cites Beryl Ford, an authority on Tulsa photographic history, who analyzed the building damage visible in pictures. Photos show debris scattered only inside the buildings’ shells had explosives been employed, Ford points out, the debris would have been strewn outside as well.

“While it is certain that airplanes were used by the police for reconnaissance [and] photographers…there probably were some whites who fired guns from planes or dropped bottles of gasoline or something of that sort,” the report concluded. “However, they were probably few in numbers.” 


1st Search Attack Group (USAAF) - History

USAAF/USAF Accident Report Monthly List

Note: These may take a while to open!

If the month is not an active hyperlink, that means that month has not been uploaded yet, but we should have them up in the next few months.
AAIR is looking for volunteers to assist with the databases. While our databases contain tens of thousands of records, they are far from complete! We need volunteers to assist by going through the microfilm and entering the information into a spreadsheet. To assist, one must have Excel and a microfilm or fiche viewer which can be picked up on eBay for about $25.

Special thanks to Ted Damick, Chris Fairburn, Craig Gyselinck, Bob Haney, Fred Oberding, Gerhard Moroff, Bill McKee, as well as Jeff and Jen Wilkinson for help indexing these reports!

1) Date – Date is in YYMMDD (year-month-day) format. 441021 is 1944 October 21st.
2) Aircraft Type
3) Serial Number – Aircraft Serial Number
4) Sqdn – Squadron to which the aircraft was assigned
5) Group – Group to which the aircraft was assigned
6) Home Base – Air Base to which the aircraft was assigned
7) AF – Army Air Force to which the aircraft was assigned
8) Action – Type of accident. See our Action Codes List for what each of these abbreviations mean.
9) D – Damage to aircraft. Initially, the Air Force used a scale of 1 to 5 for damage, but toward the end of 1944 the scale was changed to 1 to 4.
0 = None
1 = None, sometimes used for minor
2 = Minor
3 = Substantial/ Major replacement mid 1944 and earlier
4 = Destroyed/ Major overhaul mid 1944 and earlier
5 = Destroyed

In addition to using the number ratings "minor Reports" also use:
W - washout
M- major damage (upper case M)
m- minor damage (lower case m)
O- major overhaul
X- undamaged
BL- Blank (or column is left blank) exact amount of damage not given in report
10) Pilot – Name of the pilot charged with the accident. This field does not list the entire crew. There may have been more than one pilot onboard, so if you find a name you do not expect, do not be surprised—unless, of course, it was a single seat plane! If you do not find the name you are looking for, or if you are looking for a crewmember other than the pilot, try our Names Database .
11) County – The Country the accident occurred in. See our Country Code List (abbreviations) and use the code to search for all crashes in that country.
12) US State - The US state in which the accident occurred.
13) Location – Be careful using this field, this is the least reliable way to search. If you find the accident, great, but if not, do not give up! Try searching other ways (date, pilot name, home base, etc). If the crash occurred in between two towns, which one would be listed? It might be neither the report may list a town farther away, or it may list a different or incorrect place name altogether.


10 of the Most Devastating Bombing Campaigns of WWII

WWII (1939-1945) saw various atrocious developments when it came to warfare set in a backdrop of mass destruction of humans due to their ethnicity, religious beliefs and even political loyalty. How Nazi Germany annihilated countless individuals and the way the Allied Forces responded to this aggression can be wrapped up in a story of dominance, mechanization and science.

That same elements at work in the story gave its hands for men’s use and what resulted was the horrible apex brought about by WWII’s bombing campaigns.

Here, we exclude the atomic bombings that happened in Nagasaki and Hiroshima – of course, they are equally terrible and unmatched.

In this list of the top ten most destructive bombings campaigns during WWII, we have the scrupulously planned and often prolonged offensives that burned cities to the ground and destroyed entire urban populace.

Below are what we deemed as WWII’s top ten most destructive bombing campaigns.

10. OSAKA (MARCH-AUGUST 1945) – 10,000deaths

Throughout WWII, Japan suffered immense loss with their bitter conflict against the Allies, particularly the Americans, culminated in a calamitous nightmare – the atomic bombings of Japanese cities Nagasaki and Hiroshima.

However, before that happened, many Japanese cities were subjected to thorough and calculated bombing campaigns one of which was Osaka, the city hit the hardest. It suffered the loss of about 10,000 civilians between the months of March to August 1945. Of these raids, the first one which happened in March 13 and the early morning of 14 was apparently the most disastrous and intense among the strikes made.

That night, a total of 274 American B-29 heavy bomber airplanes attacked the city leaving desolation in their wake. Napalm and incendiary cluster bombs were released by the low-flying war planes over civilian housing and the bedlam that ensued lasted for three-and-a-half hours.

This said single raid on Osaka left 3,987 deaths while 678 individuals went missing.

9. KASSEL (FEBRUARY 1942-MARCH 1945) – 10,000 deaths

Kassel City located in the Hesse region of west-central Germany was subjected to an ongoing bombing campaign which started as early as 1942 and ended almost at the end of WWII, in 1945. The heaviest and most severe bombing offensive against the city was done by the British on the night of October 22 to 23, 1943.

The British Royal Air Force fanned out a total of 569 bombers over the city’s center and the compact explosion that ensued from the 1,800-tons of bombs released – incendiaries among them – worked out a deadly firestorm resulting to the deaths of at least 10,000 people the flames from the explosion even burned until seven days after the attack.

Kassel was ardently targeted during WWII because of its valuable military sites. The Fieseler aircraft plant, Henschel tank-making facilities as well as the railway works and engine works were all based there. When the Americans came and liberated Kassel, it only had 50,000 remaining inhabitants in 1939 the city’s total population had been 236,000.

8. DARMSTADT (SEPTEMBER 1943-FEBRUARY 1944) – 12,300 deaths

another German city, Darmstadt, suffered a series of bombing attacks during WWII, mainly in 1943 and 1944. Among these attacks, the most destructive happened on September 11 and 12, 1944 – the British RAF carried out an intense attack on these days.

Darmstadt was not really a natural bombing target unlike other German cities it was, after all, not an industrial town but a university one with the Merck chemical factory being the only main industry. In spite of this fact, the city was razed by 226 Lancaster bombers along with 14 Mosquitoes which deliberately spreading their bombs over an area as wide as they can possibly cover with the town’s medieval center as their main target where most of the houses were made of wood.

Almost all the homes were burned down by the fire which resulted from the explosion and an estimated 12,300 deaths resulted from the attack.

The Germans held the raid as the prime example of RAF “terror bombing”.

7. PFORZHEIM (APRIL 1944-MARCH 1945) – 21,200 deaths

Towards the end of WWII, Pforzheim, southwestern Germany town, became a target for a series of bombing campaigns. The principal reason by RAF behind the attacks was that the town was a jeweler’s center and, therefore, had the capability to make precision instruments which the German could use in their war machines – as stated by a report dated June 28, 1944.

nevertheless, the town was not placed in RAF’s list until November of 1944 and the main attack against Pforzheim did not happen until February 1945 causing historian Detlef Siebert to assume that the town was targeted because it was easy to locate and had a medieval town center which was susceptible to fire.

A total of 379 British air crafts hovered the town on the February 23rd attack and what followed was the deadliest 22 minutes – between 19:50 to 20:12 hours, about 83% of the town was totally wiped out and an estimated 17,600 individuals killed along with thousands of others wounded. Pforzheim’s inner city was depopulated and the whole town was ravaged, an effect of the explosions and the burning poisonous phosphorus materials.

6. SWINOUJSCIE (MARCH 12, 1945) – 5,000 to 23,000 deaths

Swinoujscie, the Polish city and port, suffered out-and-out bombing attacks from the hands of the US Air Force during WWII and this happened all within a day.

March 12, 1945 – the fateful day when the then German-controlled city, its population mostly comprised of refugees, was heavily bombed. An estimate of between 5,000 and 23,000 deaths was reported after the terrible occurrence though the exact number is until know unknown as much of eastern Europe at that time was in total chaos. After WWII ended, Poles repopulated the city and it has remained a part of Poland since.

5. LONDON (SEPTEMBER 1940-MAY 1941) – 20,000 deaths

One of the many unforgettable scenes British citizens will never forget from the WWII is the London Blitz – from the German word “blitzkrieg” or “lightning war”.

Germany’s Luftwaffe inflicted planned and continuous offensive attacks which reportedly lasted for 76 consecutive nights and was said to have caused the death of 20,000 individuals. The attacks also caused the destruction of over 1 million homes and the poor areas of the city such as East End distressed terribly during the onslaught.

However, in spite of the devastation inflicted by the Germans such as what happened in London, Britain’s unwavering resolve and unwillingness to be subjected to the demands of Germany’ Third Reich helped change WWII’s course and gave the Allied Forces the launch pad to get back against the enemy in 1942-1945.

As what then British prime Minister Winston Churchill pointed out, “we will never give up” and they never did!

4. BERLIN (1940-1945) – 20,000 to 50,000 deaths

Berlin, Germany’s capital, was subjected to a sustained and strategic bombing attacks by the Allied Forces throughout the duration of WWII.

All in all, Berlin became the target of about 363 air raids between 1940-1945, from British, American and Soviet war planes. The RAFÕs’ policy of solely bombing buildings that have direct military importance was slowly replaced by their new strategy of “area bombing” which included attacks against civilian centers and housing. Civilian deaths was not the aim of this new strategy yet this result was inevitable.

Between 20,000 to 50,000 deaths resulted in the attacks against Berlin during WWII and countless others were left homeless.

3. DRESDEN (OCTOBER 1944-APRIL 1945) – 25,000 deaths

Dresden is Germany’s seventh biggest city during the WWII era and was a vital industrial center at that time that it became the target and was subjected to one of the most severe bombing attacks throughout war history.

the most intense period of these attacks against Dresden happened in February 13 to 15, 1945 about 1300 bombers from the RAF and USAAF combined dropped over 3,900 tones of firebombs and high explosives over the besieged city.

About fifteen square miles of the city’s center was completely destroyed by the destructive firestorm caused by the explosives and the hot winds drove the people to their homes in an attempt to save themselves but turned out to be their death trap.

The death toll released by the Nazi-controlled German press in 1945 was as high as 200,000. However, following estimates which the local authorities supported placed the figure at 25,000 – so much lower than the first estimate but still so many lives lost.

2. HAMBURG (SEPTEMBER 1939-APRIL 1945) – 42,600 deaths

Hamburg, just like Berlin, experienced extensive bombing raids throughout WWII. The city was a critical attack point for the Allied Forces because it was a chief port of the country, an industrial center plus it was the site of various major German shipyards as well as U-boat pens.

The most intense bombing campaign against the city was done by the combined forces of the US and the British last week of July 1943. The campaign dubbed Operation Gomorrah almost wiped out the whole city from the map. Because of the severity of the bomb blasts which went on for eight days and seven nights, it resulted to a feared firestorm that burned down over eight square miles of the city to ashes.

About 3,000 crafts took part in the operation and a total of 9,000 tons of bombs were used. 42,600 individuals were left dead while 37,000 got wounded. It was also estimated that about 1,000,000 civilians fled from the city.

The scale and the force of the operation was something mainland Europe had not witnessed before and had not seen again ever since.

1. TOKYO (NOVEMBER 1944-AUGUST 1945) – over 100,000 deaths

USAAF started bombing Japan on a large, strategic scale November 1944 and continued on until Japan surrendered on August 15, 1945.

The US did a minor bombing operation against Japan’s capital on April 1942 – it boosted the American Army’s morale but it was not until two years later that they really did a full-scale and continuous attack.

When the B-29 Super Fortress came into being, US Army used it extensively over Japan, most specifically over Tokyo. As a matter of fact, almost 90% of the bombs dropped in Japan’s capital were done by B-29s.

Of all the operations done against the city, the most intense happened in March 9-10, 1945. It was dubbed Operation Meetinghouse. This attack is considered the single most destructive bombing campaign ever.

About 1,700 tons of bombs were dropped into the city which destroyed 286,358 buildings and killed over 100,000 civilians with the explosions and the resulting firestorms.

If you add the 1,000,000 injured during the event, you could picture out how devastating and terrible those nights were in 1945 not just those but all those nights civilians had to crouch in fear for their lives as WWII raged on all around them.


Hispanic American Aviators in World War II

Hispanics served in ground and seabound combat units, but they also distinguished themselves as fighter pilots and as bombardiers.

A "flying ace" or fighter ace is a military aviator credited with shooting down five or more enemy aircraft during aerial combat. The term "ace in a day" is used to designate a fighter pilot who has shot down five or more enemy aircraft in a single day. Since World War I, a number of pilots have been honored as "Ace in a Day" however, the honor of being the last "Ace in a Day" for the United States in World War II belongs to First Lieutenant Oscar Francis Perdomo of the 464th Fighter Squadron, 507th Fighter Group.

First Lieutenant Perdomo, (1919&ndash1976), the son of Mexican parents, was born in El Paso, Texas. When the war broke out, Perdomo joined the United States Army Air Force (USAAF) as an aviation cadet and was trained to pilot the P-47 Thunderbolt. After receiving his pilot training, he was assigned to the 464th Fighter Squadron, which was part of the 507th Fighter Group that was sent to the Pacific Island of Ie Shima off the west coast of Okinawa.

The atomic bomb was dropped on Nagasaki, Japan on August 9, 1945, but while the Allies awaited Japan’s response to the demand to surrender, the war continued. On August 13, 1945, 1st Lt. Perdomo shot down four Nakajima Ki-43 "Oscar" fighters and one Yokosuka K5Y "Willow" Type 93 biplane trainer. This action took place near Keijo/Seoul, Korea when 38 Thunderbolts of the 507th Fighter Wing encountered approximately 50 enemy aircraft. This action was Lt. Perdomo’s tenth and final combat mission, and the five confirmed victories made him an "Ace in a Day" and earned him the distinction of being the last "Ace" of World War II. He was awarded the Distinguished Service Cross for extraordinary heroism in action and the Air Medal with one oak leaf cluster.

Other Hispanics served with distinction in aerial combat, among which are the following men whose names are placed in accordance to their ranks: Commander Eugene A. Valencia, Jr., Lieutenant Colonel Donald S. Lopez, Sr., Captain Michael Brezas, Captain Mihiel "Mike" Gilormini, Captain Alberto A. Nido, Captain Robert L. Cardenas, 2nd Lieutenant César Luis González, First Lieutenant Francisco Mercado, Jr, Lieutenant Richard Gomez Candelaria, Lieutenant José Antonio Muñiz, Lieutenant Arthur Van Haren, Jr., Technical Sergeant Clement Resto and Corporal Frank Medina.

Commander Eugene A. Valencia, Jr., United States Navy (USN) fighter ace, is credited with 23 air victories in the Pacific during World War II. Valencia’s decorations include the Navy Cross, five Distinguished Flying Crosses, and six Air Medals.

Lieutenant Colonel Donald S. Lopez, Sr., USAAF fighter ace was assigned to the 23rd Fighter Group under the command of General Claire Chennault. The mission of the fighter group (the "Flying Tigers") was to help defend Chinese nationals against Japanese invaders. During 1943&ndash1944, Lopez was credited with shooting down five Japanese fighters, four in a Curtiss P-40 and one in a North American P-51.

Captain Michael Brezas, USAAF fighter ace, arrived in Lucera, Italy during the summer of 1944, joining the 48th Fighter Squadron of the 14th Fighter Group. Flying the P-38 aircraft, Lt. Brezas downed 12 enemy planes within two months. He received the Silver Star Medal, the Distinguished Flying Cross, and the Air Medal with eleven oak leaf clusters.

Captain Mihiel "Mike" Gilormini, Royal Air Force and USAAF, was a flight commander whose last combat mission was attacking the airfield at Milano, Italy. His last flight in Italy gave air cover for General George C. Marshall’s visit to Pisa. Gilormini was the recipient of the Silver Star Medal, five Distinguished Flying Crosses, and the Air Medal with four oak leaf clusters. Gilormini later founded the Puerto Rico Air National Guard and retired as Brigadier General.

Captain Alberto A. Nido, Royal Canadian Air Force, the British Royal Air Force and the USAAF. He flew missions as a bomber pilot for the RCAF and as a Supermarine Spitfire fighter pilot for the RAF. As member of the RAF, he belonged to 67th Reconnaissance Squadron who participated in 275 combat missions. Nido later transferred to the USAAF’s 67th Fighter Group as a P-51 Mustang fighter pilot. He was awarded the Distinguished Flying Cross with four oak leaf clusters and the Air Medal with four oak leaf clusters. Nido co-founded the Puerto Rico Air National Guard and, as Gilormini, retired a Brigadier General.

Captain Robert L. Cardenas, USAAF, served as a B-24 aircraft pilot in the European Theater of Operations with the 506th Bombardment Squadron. He was awarded the Air Medal and two oak leaf clusters for bombing missions before being shot down over Germany in March 1944. Despite head wounds from flak, he made his way back to Allied control. On October 14, 1947, Cardenas flew the B-29 launch aircraft that released the X-1 experimental rocket plane in which Charles E. Yeager became the first man to fly faster than the speed of sound. Cardenas retired as Brigadier General.

2nd Lieutenant César Luis González, USAAF, the co-pilot of a C-47, was the first Puerto Rican pilot in the United States Army Air Force. He was one of the inicial participants of the invasion of Sicily on July 10, 1943 also known as Operation Husky. During the invasion of Sicily, he flew on two night missions, the first on July 9, where his mission was to release paratroops of 82nd Airborne Division on the area of Gela and the second on July 11, when he dropped reinforcements in the area . His unit was awarded a "DUC" for carrying out this second mission in spite of bad weather and heavy attack by enemy ground and naval forces. González died on November 22, 1943, when his plane crashed during training off the end of the runway at Castelvetrano. He was posthumously promoted to First Lieutenant.

Lieutenant Richard Gomez Candelaria, USAAF, was a P-51 Mustang pilot from the 435th Fighter Squadron of the 479th Fighter Group. With six aerial victories to his credit, Candelaria was the only pilot in his squadron to make "ace". Most of his victories were achieved on a single mission on April 7, 1945, when he found himself the lone escort protecting a formation of USAAF B-24 Liberators. Candelaria defended the bombers from at least 15 German fighters, single-handedly destroying four before help arrived. He was also credited with a probable victory on an Me 262 during this engagement. Six days later, Candelaria was shot down by ground fire, and spent the rest of the war as a POW. After the war, Candelaria served in the Air National Guard, reaching the rank of Colonel prior to his retirement.

Lieutenant Francisco Mercado, Jr.,USAAF, flew 35 combat missions as a Bombardier over enemy occupied Continental Europe as a member of the 853rd Bomb Squadron, 491st Bomb Group, 8th Air Force. He was awarded the Air Medal with four Oak Leaf Cluster and the Distinguished Flying Cross. He flew ten missions as the Squadron Lead Bombardier, and one as the Group Lead Bombardier on December 30, 1944, on a mission to the Railroad Bridge at Altenahr, Germany. On July 21, 1944, he earned a membership into the exclusive "Caterpillar Club" after he parachuted over England while returning from a mission with a crippled B-24.

Lieutenant José Antonio Muñiz, USAAF, served with distinction in the China-Burma-India Theater. During his tour of duty he flew 20 combat mission against the Imperial Japanese Army Air Force and shot down a Mitsubishi A6M Zero. In 1960, Muñiz was flying a formation of F-86s celebrating the 4th of July festivities in Puerto Rico and upon take off his airplane flamed out and crashed. In 1963, the Air National Guard Base, at the San Juan International airport in Puerto Rico, was renamed "Muñiz Air National Guard Base" in his honor.

Lieutenant Arthur Van Haren, Jr., USN, was a fighter pilot who was considered the top fighter ace of World War II from Arizona. He was part of the infamous U.S. Navy Fighting Squadron Two (VF-2 "Rippers"). Based on the USS Hornet, a United States Navy aircraft carrier of the Essex class, Lt. Van Haren, Jr., flew the F6F Hellcat. He downed nine confirmed enemy planes during grueling combat in the Pacific Theater skies, and had three additional unconfirmed kills. Three of his nine kills occurred in the Marianas Turkey Shoot. Additionally, Van Haren, Jr. was awarded two Distinguished Flying Cross (United States) medals.

Technical Sergeant Clement Resto, USAAF, was not an "ace" but served with the 303rd Bomb Group and participated in numerous bombing raids over Germany. During a bombing mission over Duren, Germany, Resto’s plane, a B-17, was shot down. He was captured by the Gestapo and sent to Stalag XVII-B where he spent the rest of the war as a prisoner of war. Resto, who lost an eye during his last mission, was awarded a Purple Heart, a POW Medal and an Air Medal with one battle star after he was liberated from captivity.

Corporal Frank Medina, USAAF, was an air crew member on a B-24 that was shot down over Italy. He was the only crewmember to evade capture. Medina explained that his ability to speak Spanish had allowed him to communicate with friendly Italians who helped him avoid capture for eight months behind enemy lines.


Osama bin Laden: “Public Enemy #1″

In an attempt to protect himself from arrest and win even more recruits to al Qaeda’s deadly cause, bin Laden moved from Sudan to Afghanistan in 1996. Meanwhile, the scale of al Qaeda’s attacks continued to increase. On August 7, 1998, bombs exploded simultaneously at the U.S. Embassies in Nairobi, Kenya, where 213 people were killed and 4,500 were injured, and Dar-es-Salaam, Tanzania, where 11 people were killed and 85 were injured. Al Qaeda took credit for the bombings. Then, on October 12, 2000, a small boat loaded with explosives plowed into the hull of the U.S.S. Cole, an American naval destroyer docked off the coast of Yemen. 17 sailors were killed and 38 were injured. Bin Laden took credit for that incident as well.

A federal grand jury in the United States indicted bin Laden on charges related to the embassy bombings, but with no defendant there could be no trial. Meanwhile, al Qaeda operatives were busy planning the biggest attack of all: the September 11, 2001 attacks on the World Trade Center and the Pentagon.

Even in the frenzy of the post-September 11 “global war on terror,” bin Laden eluded capture. For almost ten years, he remained in hiding, issuing fatwas and taunts over radio and television, recruiting enthusiastic young jihadis to his cause and plotting new attacks. Meanwhile, the CIA and other intelligence officials searched in vain for his hiding place.

Finally, in August 2010, they traced bin Laden to a compound in Abbottabad, Pakistan, about 35 miles from Islamabad. For months, CIA agents watched the house while drones photographed it from the sky. Finally, it was time to move. On May 2, 2011 (May 1 in the United States), a team of Navy SEALs burst into the compound. They found the al Qaeda leader in an upstairs bedroom with a pistol and an assault rifle nearby and shot him in the head and chest, killing him instantly. “Justice,” said President Obama in a televised address to the nation that night, “has been done.”